Quốc tế

Một số đặc điểm kinh tế thế giới 10 năm tới

Nền kinh tế toàn cầu đứng trước thời kỳ chuyển đổi cơ cấu và mô hình tăng trưởng tất yếu, trong 10 năm tới nổi bật một số xu thế: toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng hơn; kết cấu ngành nghề toàn cầu phát triển theo hướng giảm thiểu carbon; kết cấu kinh tế dần trở nên đa nguyên hóa; quản lý toàn cầu Đông – Tây dần dần đi vào quỹ đạo thống nhất... Động lực tăng trưởng sẽ là đổi mới công nghệ để tạo đà tăng trưởng, đồng thời, tìm ra những nguồn năng lượng mới, ứng phó ,bảo vệ với những thách thức có thể xảy ra như khủng hoảng nợ xấu, an ninh lương thực, già hóa dân số, dịch bệnh…

Nền kinh tế toàn cầu có thể chuyển mình sau cơn bão khủng hoảng như thế nào vẫn còn nhiều ẩn số. Giới phân tích cũng cảnh báo về nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng tiếp theo với ngòi nổ là thị trường tài chính, bong bóng bất động sản từ nền kinh tế thứ hai thế giới là Trung Quốc và nợ xấu của các nước châu Á và châu Âu.

Liên minh châu Âu EU chú trọng phát triển nền kinh tế xanh

Nền kinh tế thế giới sau khi trải qua thời kỳ phát triển nóng từ những năm 1980, đến năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã kết thúc chuỗi thời gian tăng trưởng, đồng thời có những tác động sâu rộng cho đến thời điểm hiện tại. Điểm mặt các nền kinh tế trên thế giới, từ những nền kinh tế phát triển cho đến đang phát triển, dường như bóng đen của cuộc khủng hoảng nổ ra cách đây gần 6 năm vẫn chưa đi qua. Dấu hiệu cho thấy, các nền kinh tế chủ yếu trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu EU, Nhật Bản,… đều không mấy khởi sắc. Theo một cuộc khảo sát của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong 14 chu kỳ kinh tế kể từ năm 1929 đến nay, đợt phục hồi kinh tế lần này là chậm chạp nhất[1].

Nhiều nhà phân tích đặt câu hỏi, tại sao thời điểm khủng hoảng đã qua lâu như vậy, đồng thời bất chấp những biện pháp cứu trợ thị trường mạnh tay của các chính phủ, mà đến thời điểm này nền kinh tế thế giới vẫn chưa vực dậy được mức trước khủng hoảng? Phải chăng do kết cấu kinh tế toàn cầu hiện nay đã không còn phù hợp với xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế kiểu mới?

Bài tổng luận dưới đây sẽ đi sâu phân tích ba nội dung chính: (1) Đặc điểm chính của nền kinh tế thế giới hiện nay; (2) Xu thế tăng trưởng kinh tế thế giới trong 10 năm tới; (3) Những nhân tố tác động tăng trưởng kinh tế thế giới 10 năm tới.

 

PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY

 

Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, các nước phương Tây bắt đầu đưa ra các chiến lược “tái công nghiệp hóa” với mong muốn khôi phục ưu thế của ngành công nghiệp chế tạo trong nước, tạo động lực lớn mạnh hơn cho quá trình phục hồi nền kinh tế. Các biện pháp trong chiến lược tái công nghiệp hóa bao gồm: đưa chiến lược “tái công nghiệp hóa” trở thành chiến lược quốc gia; trọng điểm phát triển các ngành công nghiệp chế tạo tiên tiến, như phát triển và sử dụng nguồn năng lượng sạch, vật liệu mới, công nghệ thông minh, công nghệ in 3D… 

Các nước phương Tây bắt đầu chú trọng phát triển lại các ngành kinh tế thực thể[2], điều chỉnh chế độ phúc lợi theo hướng khắc khổ. Nhiều năm qua, các nước phát triển châu Âu đi theo mô hình tăng trưởng kinh tế “trọng tiêu dùng, nhẹ sản xuất”, do vậy tình trạng các ngành nghề trong nước “bị rỗng” tồn tại phổ biến, hơn nữa trong bối cảnh toàn cầu hóa, các công ty đa quốc gia của những nước này lũ lượt dịch chuyển các cơ sở sản xuất ra nước ngoài, khiến cho tình trạng “rỗng hóa” trong nước ngày càng trầm trọng hơn. Cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến phương Tây ý thức hơn được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế thực thể, đồng thời bắt đầu coi việc phục hưng nền kinh tế thực thể, thúc đẩy chiến lược “tái công nghiệp hóa” làm chương trình nghị sự quan trọng trong quá trình điều chỉnh kết cấu ngành nghề.

 

 

Hình 1: Phương Tây chú trọng chiến lược thúc đẩy "tái công nghiệp hóa"

 

Một khía cạnh dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển đó là chế độ phúc lợi đã vượt quá năng lực của các nền kinh tế. Chế độ phúc lợi cao vẫn luôn được coi là niềm tự hào của các nước phương Tây, song đi đôi với những mặt tích cực, nó cũng khiến cho giá thành lao động tại những quốc gia này tăng cao, đồng thời làm suy giảm năng lực cạnh tranh thương mại của những quốc gia này. Do vậy, hiện tượng nhập siêu thương mại rất phổ biến. Để kích thích tăng trưởng kinh tế, bù lấp vào các khoản thâm hụt thương mại, chính phủ các nước này buộc phải mở rộng phát hành trái phiếu chính phủ nhằm vay để chi tiêu. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho khủng hoảng nợ công bùng phát. Dưới những áp lực lớn như vậy, các nước phương Tây buộc phải cải cách chế độ phúc lợi thông qua một loạt các giải pháp thắt lưng buộc bụng, như tăng tuổi nghỉ hưu, giảm chi tiêu cho ngân sách dưỡng lão, giảm chi phí bảo hiểm y tế… Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề thâm căn cố đế này, e rằng các nước phương Tây còn cần một chặng đường dài nữa để đi.

 

Tiếp đến là vấn đề chuyển đổi mô hình phát triển của các nền kinh tế mới nổi. Những năm gần đây, đặc biệt là hai năm trở lại đây, các nền kinh tế mới nổi đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi kinh tế thế giới. Theo các số liệu năm 2013 của IMF, tỷ lệ đóng góp của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vào GDP toàn cầu đã tăng từ 30% lên trên 50%, tỷ lệ đóng góp thương mại chiếm 40%, dự trữ ngoại hối chiếm 70%[3]. Mặc dù vậy, các thị trường mới nổi cũng phải đối mặt với nhiều áp lực, như giá cả các mặt hàng đại chúng leo thang, áp lực lạm phát, xuất khẩu giảm, nguồn vốn cho vay tín dụng ngân hàng bị thu hẹp, tốc độ tăng trưởng chững lại.

 

Đặc biệt, phần lớn những nước này đều lấy xuất khẩu làm chủ đạo, sự giảm tốc và nhu cầu ảm đạm của các nền kinh tế phát triển sẽ có những tác động tiêu cực đến các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang nhen nhóm ngóc đầu trở lại cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với xuất khẩu thương mại của những nước này. Do vậy, làm thế nào để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, từ chỗ chủ yếu dựa vào xuất khẩu sang kích thích nhu cầu trong nước, giảm mức độ phụ thuộc vào ngoại thương, mở rộng thị trường sang những nước đang phát triển… trở thành những vấn đề nổi cộm mà các nước mới nổi đang phải đối mặt. 

 

Nền kinh tế các nước phát triển gặp nhiều khó khăn

 

Trước tiên, cuộc khủng hoảng nợ đã tác động đến thế giới phương Tây. Theo một báo cáo mới đây của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tổng nợ chính phủ toàn cầu năm 2014 ước đạt 100 nghìn tỷ USD[4], là mức cao nhất trong lịch sử. Khác với trước đây, hiện tại những quốc gia có nợ chủ yếu là những nước phát triển.

Theo dự báo của trang mạng Trading Economies, nợ công năm 2014 chính phủ của Mỹ sẽ chiếm 101,53% GDP, là mức cao nhất kể từ năm 1946[5]; còn theo trang điện tử fortune.com, nợ công hiện nay của Nhật Bản chiếm khoảng 240% GDP[6]; trong khi nợ công hai quý đầu năm 2014 của Liên minh châu Âu có vẻ khiêm tốn hơn khi chiếm 87%, GDP, tăng 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2013[7]. Khủng hoảng nợ đã trở thành rào cản chủ yếu kìm hãm sự phát triển kinh tế hiện nay của các nước phát triển. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này đã trở thành “đầu đạn” khiến cho nợ chính phủ của các nước phát triển tiếp tục tăng lên, nếu như không đưa ra các biện pháp cắt giảm chi tiêu, tăng thuế, cải cách thị trường lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh, thì cuộc khủng hoảng nợ công của các nước phát triển có khả năng sẽ kéo dài đến năm 2025 mới phần nào được khắc phục.

 

Hai là, sự phục hồi kinh tế “không việc làm” tiếp tục diễn ra. Bất chấp thực tế kinh tế Nhật Bản và EU đã thoát khỏi giới hạn tăng trưởng âm vào năm 2013, cụ thể kinh tế của 17 nước thành viên trong Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) tăng trưởng 0,3%; Nhật Bản tăng 1,5%; Mỹ tăng 1,6%, tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc tình hình việc làm sẽ khả quan hơn. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp tại các nước phát triển này vẫn tương đối cao: theo số liệu của trang web Trading economies, 3 quý đầu năm năm 2014, tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản đạt 2,71%; EU đạt 11.5%[8]; của Mỹ đã giảm xuống mức 5,83%. Cũng theo số liệu công bố ngày 9/9/2014 của WB thực hiện cùng Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hiện có hơn 100 triệu người tại G-20 đang thất nghiệp và 447 triệu người khác được coi là “lao động trong nghèo khổ” với mức sống dưới 2 USD một ngày[9]. Thời kỳ sau khủng hoảng, các nước phát triển phổ biến đối mặt với các vấn đề thất nghiệp nan giải mang tính chu kỳ và tính kết cấu chưa từng có. Theo ước tính của OECD gần đây, tình hình việc làm của các nước phát triển rất khó có thể cải thiện rõ rệt; để khôi phục hoàn toàn mức trước khủng hoảng cần thời gian ít nhất từ 3 đến 5 năm nữa. Theo dự báo của Cục Phân tích Kinh tế, Bộ Thương mại Mỹ, đến năm 2019 tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ mới có khả năng khôi phục mức trước khủng hoảng tài chính. Hiện tượng kinh tế phục hồi “không việc làm” ở những nước phát triển tiếp diễn một thời gian dài nữa khiến cho tiêu dùng ảm đạm và tăng trưởng thấp.

Sự bấp bênh của phục hồi kinh tế thế giới bộc lộ qua việc chỉ vài giờ sau khi lãnh đạo G-20 tại Brisbane, thủ phủ bang Queensland, cùng nhất trí tăng cường lòng tin thông qua cam kết nâng sản lượng toàn cầu lên 2 nghìn tỷ USD trong vòng 5 năm tới, Nhật Bản tuyên bố quốc gia này đã ở trong tình trạng suy thoái. Báo Guardian (Anh) số ra ngày 17/11/2014, đã đăng cảnh báo của Thủ tướng Anh David Cameron rằng nền kinh tế thế giới “đang ở mức báo động đỏ”.

Kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái là một thông tin gây bất ngờ trước các nỗ lực của chiến lược "Abenomics". Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) của Nhật Bản đã giảm 1,6% trong quý III năm nay trong bối cảnh các gia đình hạn chế chi tiêu và các doanh nghiệp giảm đầu tư cơ bản sau khi chính phủ tiến hành tăng thuế tiêu thụ. Sự suy yếu của nền kinh tế Nhật Bản có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng của nhiều khu vực khác nếu các doanh nghiệp Nhật Bản cắt giảm đầu tư và hạn chế nhập khẩu những mặt hàng như máy móc, linh kiện điện tử và nguyên liệu thô. Hiện quốc đảo này là một trong những nhà nhập khẩu lương thực lớn nhất thế giới và đứng thứ 3 toàn cầu về thu mua khí đốt tự nhiên[10].

 

Nhóm các nền kinh tế mới nổi tiếp tục trỗi dậy

 

Trước tiên, quy mô kinh tế của các nền kinh tế mới nổi sẽ ngày một lớn. Theo số liệu thống kê GDP các nước của Ngân hàng Thế giới, đến hết năm 2013, 4 trong 5 nước trong khối BRICS đều nằm trong danh sách 10 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, theo đó nếu tính theo tỷ giá hối đoái quốc tế, GDP Trung Quốc đạt 9,24 nghìn tỷ USD, xếp thứ 2 thế giới; Braxin 2,25 nghìn tỷ USD, xếp thứ 7; Nga đạt 2,10 nghìn tỷ USD, xếp thứ 8; Ấn Độ 1,88 nghìn tỷ USD, xếp thứ 10[11]. Ngân hàng đầu tư và chứng khoán Goldman Sachs lập luận rằng, bởi các nước BRICS đang phát triển nhanh chóng, đến năm 2050, các nước này sẽ làm lu mờ vị thế kinh tế của các nước giàu có nhất thế giới hiện tại. Diện tích lãnh thổ khối BRICS chiếm gần 30% thế giới, dân số chiếm 42% thế giới. Hiện nay, GDP của khối này ước khoảng 20 nghìn tỷ USD, chiếm trên 20% tổng lượng GDP toàn cầu[12].

 

Hai là, tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thế giới của những nền kinh tế mới nổi cũng sẽ dần dần tăng lên. Theo dự báo của IMF, tỷ lệ đóng góp của những nước phát triển đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã giảm từ 88,6% trong năm 1990 xuống còn 30% trong năm 2010, trong khi các nước khối BRICS lại tăng từ âm 0,6% của năm 1990 lên trên 60% trong năm 2010[13].

 


[1] Theo bài viết trên “Thời báo Kinh tế Trung Quốc”: “未来十年全球经济面临六大挑战” (10 năm tới nền kinh tế toàn cầu đối mặt với 6 thách thức lớn”, trên trang web: http://news.hexun.com/2013-12-23/160817244.html , ngày 23/12/2013.

 

[2] Real sector/ Real economic sector (tạm dịch: kinh tế thực thể). Theo định nghĩa của trang:   http://www.bot.or.th/English/Statistics/EconomicAndFinancial/RealSector/Pages/Index.aspx ): “Kinh tế thực thể” chỉ những ngành kinh tế sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ thông qua việc sử dụng các nguyên liệu thô và các yếu tố sản xuất khác như lực lượng lao động, đất đai và vốn… 

[5] Theo thống kê của Văn phòng nợ công Mỹ (Beureau of public debt) http://www.tradingeconomics.com/united-states/government-debt-to-gdp

[7] Theo Global times www.huanqiu.cn

[9] Bài viết của AFP: “The world is facing a global job crisis”, 09/09/2014

http://www.businessinsider.com/afp-world-bank-warns-of-global-jobs-crisis-2014-9

[10] Theo AP, London, ngày 17/11/2014

[11] Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới: Data on GDP ranking, 2013

[13] Theo các số liệu của Qũy Tiền tệ Quốc tế; www.imf.org

PHẦN II: XU THẾ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 10 NĂM TỚI

 

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã chấm dứt xu thế tăng trưởng nhanh của nền kinh tế toàn cầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, cụ thể vào năm 2009, tăng trưởng kinh tế thế giới lần đầu tiên đạt mức tăng trưởng âm sau chuỗi thời gian tăng trưởng nóng. Những năm gần đây, dưới sự thúc đẩy của các chính sách kích thích kinh tế trên quy mô lớn và các biện pháp cứu trợ thị trường tài chính, kinh tế toàn cầu từng bước phục hồi, tuy chưa ổn định: năm 2012, GDP tăng trưởng 3,15%, tuy nhiên năm 2013 lại đột ngột giảm xuống 2,9% trái với kỳ vọng của thị trường. Tuy nhiên, theo nhiều nhận định, trong thời gian 5 năm tới, nền kinh tế thế giới vẫn sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, xu thế tăng trưởng dài hạn cũng sẽ dần dần hình thành. Theo dự báo của IMF, trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ đạt 4,18%, tăng 1,88 điểm phần trăm so với giai đoạn 2007-2012[1].

Nhìn từ chu kỳ tăng trưởng kinh tế có thể thấy, kinh tế toàn cầu trong 10 năm tới về tổng thể sẽ ở trong giai đoạn điều chỉnh và dần dần tăng trưởng. Các học thuyết về chu kỳ kinh tế cho thấy, nền kinh tế toàn cầu luôn ở trong quá trình tăng trưởng mang tính chu kỳ không ngừng biến động, hay nói theo cách của nhiều nhà phân tích, cuộc khủng hoảng lần này và đợt giảm tốc tăng trưởng GDP của nền kinh tế thế giới giống như một cuộc “thay máu”, hay một lần “sang số mới” cho nền kinh tế toàn cầu. Trong lịch sử phát triển kinh tế 200 năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua 5 chu kỳ lớn, với các tiêu chí đặc trưng cho từng giai đoạn, bao gồm động cơ hơi hơi nước, đường sắt, điện lực, xe hơi và cuộc cách mạng công nghệ thông tin[2].

Tuy nhiên, khi nhìn từ xu thế phát triển kinh tế thế giới trong tương lai, xu thế toàn cầu hóa kinh tế sẽ không thay đổi, nền kinh tế carbon thấp sẽ trở thành lựa chọn quan trọng của nhiều quốc gia, xu thế trỗi dậy đồng loạt của các nền kinh tế mới

nổi sẽ vẫn tiếp tục, một kết cấu mới của nền kinh tế thế giới đa cực sắp được hình thành[3]. Có thể tổng hợp thành 5 xu thế chủ đạo cho sự phát triển kinh tế thế giới trong tương lai, bao gồm:

 

 (1) Toàn cầu hóa kinh tế phát triển sâu rộng hơn. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã làm cho quá trình toàn cầu hóa kinh tế bước vào thời kỳ điều chỉnh, tuy nhiên cần nhận thức rõ ràng rằng, xu thế chủ đạo về toàn cầu hóa kinh tế vẫn không hề thay đổi, hơn nữa trong môi trường kinh tế mới, xu thế này còn xuất hiện một số đặc điểm mới:

 

Một là, nguồn vốn quốc gia sẽ kết hợp trực tiếp với nguồn vốn độc quyền tư nhân, đồng thời trở thành một biện pháp quan trọng giúp cứu vãn khủng hoảng. Sau khi Chính phủ Mỹ tiếp quản công ty Fannie Mae and Freddie Mac và đại gia bảo hiểm AIG, Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn cho Bộ Tài chính nước này trích 290 tỷ USD bơm tiền góp vốn vào 9 ngân hàng lớn của Mỹ; kế hoạch liên kết cứu trợ thị trường của 17 nước khu vực đồng tiền chung Eurozone cũng bao gồm việc trực tiếp rót vốn thông qua phương thức giành được cổ phiếu ưu tiên.

Hành động cứu viện này cho thấy, toàn cầu hóa kinh tế không chỉ liên kết lợi ích của các nguồn vốn độc quyền tư nhân, mà còn liên kết lợi ích các nguồn vốn của những quốc gia phát triển phương Tây lại với nhau; nguồn vốn quốc gia từ việc cứu viện cho đến những hình thức can thiệp khác sẽ trở thành một hiện tượng mới trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang phát triển sâu sắc hơn.

 

Hai là, xu thế xuyên quốc gia nguồn vốn chính phủ sẽ trở thành nhu cầu mới để kích thích kinh tế. Trong đợt khủng hoảng này, một đặc điểm khác của các biện pháp cứu viện là song song với việc các nước đều phổ biến lựa chọn các phương án tự đưa ra các gói kích thích kinh tế để trì hoãn khủng hoảng, thì giữa các nước còn liên kết với nhau để cùng đưa ra các biện pháp kích thích nhằm phục hồi kinh tế. Một ví dụ điển hình nhất là vào ngày 2/4/2009, các nhà lãnh đạo tại Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G-20) tại London đã đạt được một thỏa thuận về kế hoạch kích thích kinh tế toàn cầu trị giá 1,1 nghìn tỷ USD. Tháng 2/2014, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân hàng Trung ương các nước G-20 được tổ chức tại Sydney, Australia cũng đã đạt được một thỏa thuận quan trọng để vực dậy nền kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng. Cụ thể, các nền kinh tế lớn trên thế giới đã nhất trí dốc sức thực thi cải cách, đưa mục tiêu trong 5 năm tới sẽ tung ra thêm gói kích thích kinh tế toàn cầu trị giá hơn 2 nghìn tỷ USD[4]. Mới đây nhất, ngày 15/11/2014, Hội nghị Thượng đỉnh G-20 diễn ra trong 2 ngày tại thủ phủ bang Queensland, Australia, cũng đã đưa ra một bản tuyên bố chung, theo đó, G-20 đặt mục tiêu nâng GDP của nhóm thêm ít nhất 2% trong 5 năm tới. Theo các chuyên gia kinh tế, nếu cam kết của G-20 được thực hiện đầy đủ, GDP của nhóm có thể tăng thêm 2,1% từ nay đến năm 2018, từ đó sẽ tạo thêm hơn 2 nghìn tỷ USD cho kinh tế toàn cầu và tạo thêm hàng triệu việc làm.

 

Ba là, cải cách quản lý kinh tế toàn cầu trở thành nhu cầu lợi ích mới trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Trong phương diện cải cách hệ thống tiền tệ tài chính toàn cầu, năm 2009, Hạ nghị viện Mỹ đã thông qua một phương án cải cách giám sát quản lý tài chính; các Bộ trưởng Tài chính EU cũng đạt được nhất trí về khuôn khổ giám sát quản lý tài chính; kế hoạch cải cách giám sát quản lý hệ thống tài chính của Mỹ và EU cũng liên quan đến một loạt các lĩnh vực khác như các tổ chức tài chính, thị trường tài chính, sản phẩm tài chính, bảo vệ người tiêu dùng, ứng phó với khủng hoảng cũng như hợp tác giám sát quản lý quốc tế. Trong phương diện cải cách kết cấu quản lý các tổ chức tài chính quốc tế, quyết định thành lập mới một Ủy ban ổn định tài chính thay thế cho Cơ chế Diễn đàn ổn định tài chính hiện có, tiến hành giám sát kiểm soát và cảnh báo những rủi ro của kinh tế vĩ mô toàn cầu và rủi ro của thị trường tài chính. Trong phương diện điều hòa và cải cách tham vấn chính sách toàn cầu, Hội nghị G-20 được thành lập sau khủng hoảng 2008 sẽ trở thành một diễn đàn cơ chế quan trọng cho đối thoại, tham vấn và điều hòa chính sách của các nước, G-20 sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phương diện cứu trợ cho khủng hoảng và quản lý toàn cầu trong tương lai.

 

(2) Kết cấu ngành nghề toàn cầu phát triển theo hướng giảm thiểu carbon hóa. Kinh tế carbon thấp với vai trò là một mô hình phát triển mới sẽ trở thành động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế thế giới. Cuộc cạnh tranh của các quốc gia xoay quanh mô hình kinh tế này sẽ ngày càng quyết liệt hơn. Tháng 2/2009, Tổng thống Mỹ B. Obama đã ký “Đạo luật phục hồi và tái đầu tư”, kế hoạch kích thích kinh tế với tổng giá trị 787,2 tỷ USD này bao gồm các nội dung khai thác những nguồn năng lượng mới, tiết kiệm năng lượng, gia tăng hiệu suất và ứng phó với khí hậu đang ấm lên… Trong đó, khai thác những nguồn năng lượng mới là nội dung trọng tâm, tổng kim ngạch đầu tư có liên quan đến lĩnh vực những nguồn năng lượng mới vượt mức 40 tỷ USD, theo đó, trong thời gian sắp tới, sản lượng năng lượng tái sinh của Mỹ sẽ gấp 2 lần hiện nay; đưa ra các tiêu chuẩn chất thải xe hơi nghiêm ngặt, thúc đẩy mạnh mẽ xây dựng các công trình xanh, cũng như xây dựng mạng lưới điện thông minh mới; thông qua một loạt các biện pháp bảo vệ môi trường tiết kiệm năng lượng, phát triển nền kinh tế carbon thấp, nắm bắt quyền chủ đạo trong phương diện ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu ấm lên.

Liên minh châu Âu (EU) thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế carbon thấp; trong việc phát triển nền kinh tế này, các quốc gia EU đi đầu trên thế giới. Sau khi nhiều nước thành viên EU như Đức, Anh lần lượt đưa ra các kế hoạch kích thích kinh tế, để điều hòa hành động của các nước thành viên, Ủy ban châu Âu đã phát huy tối đa tiềm lực các biện pháp kích thích kinh tế của các nước, để có thể tạo ra hiệu ứng trên quy mô rộng lớn. Vào tháng 12/2008, Ủy ban châu Âu đã tung ra kế hoạch kích thích kinh tế giá trị 200 tỷ euro (khoảng 252 tỷ USD).

Tháng 4/2009, Nhật Bản cũng đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế 15,4 nghìn tỷ yên (ước tính 154 tỷ USD), nội dung trọng tâm của kế hoạch này chính là cách mạng nền kinh tế carbon thấp. Mục tiêu là đến năm 2020 tỷ lệ sử dụng năng lượng mặt trời của Nhật Bản sẽ đứng đầu thế giới; quy mô sử dụng năng lượng tái sinh đạt mức cao nhất trên thế giới; đưa Nhật Bản trở thành nước đầu tiên trên thế giới phổ cập xe ô tô thân thiện với môi trường; thúc đẩy cuộc cách mạng giao thông carbon thấp, phát triển hệ thống hậu cần tiên tiến nhất trên thế giới; dẫn đầu thế giới về trào lưu tái tuần hoàn carbon thấp.

 

 (3) Kinh tế Đông – Tây trở nên cân bằng hơn. Những nền kinh tế mới nổi vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò đầu tàu trong quá trình tăng trưởng kinh tế thế giới. Mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tuy nhiên kinh tế của các thị trường mới nổi và của các quốc gia đang phát triển vẫn tăng trưởng mạnh, trong thời gian 20 năm tới có hy vọng tiếp tục trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế thế giới. Bởi vì: Thứ nhất, tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở những quốc gia này vẫn chưa kết thúc, do vậy những ưu thế của các nước đi sau vẫn tồn tại; Thứ hai, các nền kinh tế mới nổi và các quốc gia đang phát triển có thị trường tiêu dùng rộng lớn, ngoài ra còn có dự trữ ngoại hối và dự trữ quốc nội hùng hậu. Năm 2013, lượng dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt mức 3,84 nghìn tỷ USD, tăng 15,3%, là nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất toàn cầu; Nga trước khủng hoảng Ukraine, đạt mức 469,6 tỷ USD, giảm 3,5%[5]. Chi tiêu cho nghiên cứu phát triển tăng trưởng rõ rệt, các ngành nghề công nghệ cao từng bước trỗi dậy, số lượng và giá trị thị trường trong số 500 các doanh nghiệp tiềm lực nhất toàn cầu  sẽ ngày càng gia tăng. Cụ thể, theo danh sách 500 công ty có tiềm lực nhất thế giới năm 2013, Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) có 95 doanh nghiệp đã lọt vào bảng xếp hạng, tổng giá trị tài sản của 95 doanh nghiệp Trung Quốc này chiếm đến 17% tổng doanh thu của 500 doanh nghiệp mạnh nhất thế giới[6].

Thứ ba, tiến trình toàn cầu hóa kinh tế không bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng tài chính, tiến trình hình thành cộng đồng kinh tế chung khu vực tiếp tục sâu sắc hơn, toàn cầu hóa và khu vực hóa sẽ trở thành động lực bên ngoài để duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế; mặt khác, xu hướng khu vực hóa liên kết kinh tế càng nổi trội; Thứ tư, nhu cầu của các thị trường mới nổi đối với các sản phẩm đại chúng gia tăng, giúp cho giá cả các mặt hàng quốc tế duy trì ở mức giá lý tưởng, thu chi quốc tế của những thị trường xuất khẩu tài nguyên như châu Phi, Trung Đông, Cộng đồng các quốc gia Độc lập (SNG), Mỹ La-tinh sẽ tiếp tục thặng dư, tình hình tài chính quốc nội của những thị trường này cũng sẽ được cải thiện, môi trường phát triển tương đối thông thoáng; Thứ năm, hợp tác Nam - Nam[7] sẽ được tăng cường nhờ cuộc khủng hoảng tài chính, năng lực chèo lái và quản lý của tầng lớp lãnh đạo của các thị trường mới nổi sẽ được tăng cường; Thứ sáu, các nền kinh tế mới nổi sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, hiệu ứng tài sản quốc nội bắt đầu rõ rệt, làm cho tầng lớp tiêu dùng trung lưu của những thị trường mới nổi phát triển nhanh chóng. Theo thống kê của WB, đến năm 2030, những nước đang phát triển sẽ có 1,2 tỷ dân số bước vào giai tầng trung lưu, tương đương với 15% dân số toàn cầu. Tỷ lệ đóng góp trong GDP toàn cầu của những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ tiếp tục tăng lên.

Tuy nhiên, trong tương lai những quốc gia phát triển vẫn gặp phải những khó khăn nghiêm trọng về nợ công, tình trạng nợ công chính phủ ở những nước này dường như vẫn là một nỗi lo thường trực. Theo tạp chí The Economist, đồng hồ nợ công đang điểm. Dường như mỗi giây trôi qua một ai đó trên thế giới lại phải gánh thêm các món nợ mới. Ý tưởng về “chiếc đồng hồ món nợ” cho mỗi quốc gia giống như việc bất cứ ai đã đến Quảng trường Thời đại Mỹ và chứng kiến quả cầu pha lê từ từ rơi xuống vào thời khắc năm mới. Cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến cho nợ chính phủ của các nước phát triển đạt mức cao nhất kể từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đến nay, và ở trong trạng thái không bền vững. Những khoản tiền cứu trợ thị trường khổng lồ khiến cho nợ chính phủ của các nước phương Tây tăng mạnh, trở thành rủi ro lớn nhất đối với sự phát triển bình ổn kinh tế thế giới hậu khủng hoảng. Cuộc khủng khoảng nợ công châu Âu manh nha từ Hy Lạp và Ireland, nhanh chóng lan sang các “Quốc gia lợn vàng” (Golden Pig) như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, từ đó đến nay cuộc khủng hoảng nợ công vẫn âm ỉ chưa dứt tại châu Âu.

Thời điểm hiện tại vẫn chưa thấy được những dấu hiệu ngăn chặn cuộc khủng hoảng lan rộng, những khả năng không chắc chắn đang phá hủy các thị trường, đồng thời là mầm mống đẩy nhanh cuộc khủng hoảng. Theo dự đoán của IMF, thời kỳ cao điểm nợ công của những nước phát triển rơi vào giai đoạn 2011 – 2018. Cụ thể theo ước tính, năm 2014, nợ chính phủ của những quốc gia phát triển chiếm hơn 100% tỷ trọng trong GDP quốc gia, cao hơn 35 điểm phần trăm so với thời điểm trước khủng hoảng; đến năm 2023, nợ chính phủ của những nước phát triển sẽ giảm xuống 80%, năm 2030 mới có thể khôi phục trở lại mức dưới 60% ở thời điểm trước khủng hoảng. Trong lịch sử, cuộc khủng hoảng nợ công các nước Mỹ La-tinh đã khiến cho các quốc gia này “đánh mất 20 năm”, cho đến tận ngày hôm nay, bóng đen của cuộc khủng hoảng ấy vẫn chưa chấm dứt. Cuộc khủng hoảng nợ của khu vực SNG cuối cùng cũng đã dẫn đến sự thay đổi sâu sắc về mặt chính trị, nền kinh tế đã thụt lùi mất 20 năm. Hiện nay, khủng hoảng nợ công ở các nước phương Tây đã khiến cho người ta gợi nhớ đến khoảng thời gian “đánh mất 20 năm”. Trước mắt, các nước EU đã “đánh mất 10 năm”. Xu thế trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi và việc nền kinh tế của các nước phương Tây đang suy yếu tất yếu sẽ khiến cho việc so sánh thực lực giữa Đông và Tây phát triển theo hướng cân bằng hơn.

 

(4) Kết cấu kinh tế đa nguyên hóa. Nếu xét theo từng mảng, sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước mới nổi có những biểu hiện tốt hơn nhiều so với các nước phát triển. Châu Á hiện nay đang chiếm 1/3 tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. Xu thế nền kinh tế thế giới chuyển dịch sang khu vực châu Á vô cùng rõ ràng. Sự trỗi dậy về kinh tế của khu vực châu Á đã thúc đẩy việc phân hóa và tái kết cấu kinh tế thế giới, qua đó từng bước hình thành cục diện kinh tế “ba chân đứng vững” châu Âu, Mỹ, châu Á. Các thị trường công nghiệp tiên tiến như Mỹ, EU đều đang điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại của mình, theo đó chuyển trọng tâm sang khu vực châu Á. Hiện nay, Mỹ đang ra sức thực thi chiến lược tái cân bằng châu Á, đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ hiện nay đã không phải là châu Âu mà là châu Á. Kim ngạch thương mại giữa Mỹ và châu Á hiện nay đã chiếm 40% tổng kim ngạch thương mại trên toàn thế giới của Mỹ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Mỹ tại khu vực này cũng lên đến hàng trăm tỷ USD, cao hơn nhiều so với các nước Tây Âu.

Chủ tịch thường trực Hội đồng Liên minh châu Âu, ông Van Rompuy, đưa ra yêu cầu, Liên minh châu Âu nên “Hướng về phía Đông”, tăng cường hợp tác với các quốc gia châu Á, thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại phát triển sâu rộng. Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong một bài viết có tiêu đề “Trung tâm kinh tế thế giới là châu Á”[8] đã đưa ra dự đoán nền kinh tế thế giới trong 20 năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ vượt ngưỡng 9%, các quốc gia Đông Á khác ước đạt 7.5%; đến năm 2030, châu Á sẽ chiếm 50% tổng GDP của toàn thế giới, trở lại vị trí “số một thế giới”. Tuy nhiên, lời dự báo của nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ dường như vấp phải nhiều lời nghi vấn trong bối cảnh cảnh kinh tế Trung Quốc chỉ tăng trưởng trên dưới 7% những năm gần đây. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gọi đây là một “thường thái” [9]của kinh tế Trung Quốc. Phương Tây thì gọi đây là “Pinormal” (tạm dịch: ‘thường thái Tập Cận Bình’) với nhiều đặc trưng mới của nền kinh tế Trung Quốc như: đang từ tăng trưởng tốc độ cao chuyển sang tăng trưởng với tốc độ từ trung bình đến cao. Thứ hai, cơ cấu kinh tế không ngừng cải thiện và nâng cấp. Thứ ba, nền kinh tế ngày càng được thúc đẩy nhờ sự đổi mới thay vì nhờ vào các nguồn đầu tư. Tuy nhiên, theo một dự báo bi quan đăng trên trang web Business World of China, nền kinh tế Trung Quốc trong 10 năm tới sẽ chỉ còn 3,9%, thấp hơn nhiều so với mức dự đoán từ 7%-8% trước đó[10].

Sự trỗi dậy tổng thể của kinh tế châu Á sẽ thay đổi kết cấu truyền thống trước đây khi trọng tâm kinh tế thế giới chỉ hướng về châu Âu, nước Mỹ; thế kỷ 21 liệu có thật sự trở thành thế kỷ của châu Á trước mắt khó có thể đưa ra kết luận, tuy nhiên trong một khoảng thời gian tương đối dài trong tương lai, tổng thể nền kinh tế châu Á sẽ tiếp tục phát triển. Nhìn từ góc độ xu thế phát triển, trong thời gian 10 năm tới, kinh tế châu Á sẽ là khu vực tăng trưởng nhanh nhất trong nền kinh tế thế giới.

Theo dự báo của OECD, trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2030, tốc độ tăng GDP thực tế bình quân hàng năm của các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á sẽ đạt 5,5%, rõ ràng cao hơn 2,1% của Bắc Mỹ và 1,5% của châu Âu. Theo cách tính GDP trên danh nghĩa của IMF, từ năm 2010 đến 2015, GDP theo danh nghĩa bình quân hàng năm của châu Á, Bắc Mỹ, EU sẽ lần lượt đạt 8,3%, 4,6%, 2,9%; quy mô GDP sẽ lần lượt đạt 23,319 nghìn tỷ USD, 21,618 nghìn tỷ USD, và 19,482 nghìn tỷ USD; đến năm 2015, nền kinh tế của các khu vực châu Á, Bắc Mỹ, EU sẽ lần lượt chiếm 28,5%, 26,4% và 23,8% tổng lượng kinh tế toàn cầu. Nếu không xảy ra các sự việc bất ngờ, vào năm 2014, quy mô kinh tế châu Á sẽ vượt qua Bắc Mỹ, trở thành khối kinh tế khu vực lớn nhất thế giới. (Nguồn: Kho dữ liệu của Tổ chức Hợp tác Kinh tế (Mỹ)[11].

Cụ thể, ngày 7/10/2014 vừa qua, IMF đã công bố bản báo cáo Dự báo Kinh tế Thế giới (WEO-2014). Trong báo cáo này, IMF đã đưa ra dự báo GDP tính theo sức mua thực tế (PPP) của Trung Quốc năm 2014 sẽ đạt 17,632 nghìn tỷ USD, vượt qua GDP tính theo sức mua của Mỹ (17,416 nghìn tỷ USD)[12]. Nhiều nhà phân tích trên thế giới đã trích dẫn số liệu này và tuyên bố “Trung Quốc vượt mặt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới”. Còn nếu tính theo GDP trên danh nghĩa, Công ty Điều tra Thị trường (HIS) của Anh dự báo, đến năm 2024, GDP trên danh nghĩa của Trung Quốc sẽ đạt mức 28,25 nghìn tỷ USD, nhỉnh hơn một chút so với mức 27,31 nghìn tỷ USD của Mỹ.

Nhìn từ xu thế phát triển của từng quốc gia, trung tâm tăng trưởng kinh tế thế giới trong tương lai sẽ xuất hiện xu thế đa cực hóa. Trong lịch sử, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế thế giới tương đối lớn bùng nổ đều làm chấn động cơ sở kinh tế toàn cầu, thậm chí khiến cho hệ thống cũ phải tan rã, hình thành trật tự kinh tế thế giới mới. Cuộc khủng hoảng tài chính lần này cũng được xem là một cuộc đại khủng hoảng hiếm gặp, nó sẽ khiến cho thế giới đơn cực bá quyền của Mỹ khó có đất tồn tại, một hệ thống thế giới đa cực đang hình thành nhanh chóng. Cuộc khủng hoảng lần này đã trở thành một liều thuốc kích thích cho sự biến thiên của kinh tế địa duyên quốc tế và chính trị địa duyên quốc tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế chuyển trọng tâm từ hai bờ Đại Tây Dương sang hai bờ Thái Bình Dương, từ phía Tây sang phía Đông, từ châu Âu sang châu Á.

Địa vị chủ đạo của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu gặp nhiều thách thức. Trong khi đó, địa vị và thực lực của những nền kinh tế mới nổi, đứng đầu là các nước nằm trong khối BRICS như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Nga,… tăng lên rõ rệt, điều này sẽ dần dần thay đổi bản đồ và kết cấu sức mạnh hiện có của nền kinh tế thế giới. Trong 20 năm tới, kinh tế thế giới sẽ hình thành nhiều trung tâm kinh tế như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, một kết cấu kinh tế thế giới đa cực về cơ bản sẽ được hình thành trong giai đoạn 20 năm này. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Ukraine dẫn tới cấm vận kinh tế tài chính từ phương Tây đang làm suy yếu sức mạnh kinh tế Nga; chỗ đứng của nền kinh tế Nga trong tương lai 5 năm tới xuất hiện một câu hỏi lớn.

Theo một báo cáo của WB với tiêu đề “Tầm nhìn phát triển toàn cầu năm 2011 - Đa cực hóa: Kinh tế toàn cầu mới”, đến năm 2025, sáu nền kinh tế mới nổi bao gồm Braxin, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc và Nga sẽ chiếm hơn một nửa tổng lượng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đến năm 2020, ngay cả khi tính toán theo tỷ giá hối đoái thị trường, bản đồ kinh tế thế giới sẽ vẫn là một kết cấu “mỗi bên một nửa” giữa các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế phát triển.

 

 (5) Quản lý toàn cầu Đông – Tây dần dần thống nhất. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã mang một góc nhìn mới cho những biến thiên về quy tắc và trật tự kinh tế quốc tế, thiết lập ra một hệ thống mới để tạo cơ hội cho các ứng viên mới. Các quốc gia phát triển như Mỹ đã ý thức được rằng, hệ thống phương Tây đã lực bất tòng tâm trong việc ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu hóa, họ buộc phải nhờ đến sức mạnh phương Đông. Các nền kinh tế mới nổi với đại diện là khối BRICS có rất nhiều lợi ích chung trong nền kinh tế và các vấn đề phát triển thế giới, sự liên hệ và đối thoại giữa những nền kinh tế này sẽ ngày một sâu sắc hơn, vai trò và địa vị của những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ dần dần chuyển vào “trung tâm” thay vì “ngoại vi” như trong quá khứ. Đặc biệt là nhóm các nước G-20 đang ở trong một giai đoạn chuyển đổi từ chỗ là một cơ chế ứng phó hiệu quả với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế sang việc trở thành một diễn đàn chính thức để hợp tác kinh tế quốc tế, các nền kinh tế mới nổi bắt đầu đóng vai trò quan trọng hơn trong các sự vụ kinh tế, tài chính quan trọng của thế giới như cải cách hệ thống giám sát quản lý tài chính, cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế…

Cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế, nhường một phần quyền phát ngôn, tìm kiếm sự ủng hộ của các nước lớn mới nổi - trở thành sự lựa chọn khó khăn nhưng thông minh của các quốc gia phát triển trong việc ứng phó với khủng hoảng. Có thể thấy rõ sự lựa chọn này của các nước phương Tây thông qua việc các Hội nghị Thượng đỉnh các nhà lãnh đạo G-20 được gấp rút tổ chức, đồng thời G-20 nhanh chóng thay chân nhóm các nước G-8 trở thành diễn đàn chính cho hợp tác kinh tế toàn cầu. Cơ chế hóa G-20 thực chất có nghĩa tuyên bố với thế giới rằng, những quốc gia phát triển đang gỡ bỏ cái mác “vai diễn phụ” đã gắn trên lưng họ trong suốt hơn 60 năm qua, địa vị của các quốc gia phát triển và các quốc gia mới nổi trong IMF, WB… sẽ chuyển dịch sang hướng có lợi cho các quốc gia mới nổi.

Chúng ta có thể phần nào đoán định được thông qua việc năm 2012, WB và IMF lần lượt giảm tỷ lệ vốn chiếm hữu của các nước phát triển, tăng vốn chiếm hữu của các nước mới nổi, để nhằm giảm thiểu sức ảnh hưởng của các quốc gia phát triển, đồng thời tăng cường quyền phát ngôn của những thị trường mới nổi. Điều này đã phát huy tác dụng xây dựng trong các vấn đề quan trọng như cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế, quản lý mất cân bằng toàn cầu, phản đối chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu…

Cơ chế G-20 trở thành diễn đàn chính để thương thảo về các hợp tác kinh tế thương mại toàn cầu, tượng trưng cho việc các nước lớn mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong các vấn đề kinh tế tài chính thế giới. Ngoài ra, là tượng trưng của địa vị, thân phận và mức độ ảnh hưởng, “bá nghiệp” kéo dài hơn 30 năm của các nước G-7 cuối cùng sẽ phải kết thúc trong giai đoạn này. Có thể thấy trước được rằng, G-20 – với vai trò là diễn đàn mới trong quản lý toàn cầu – sẽ phát huy vai trò tích cực và quan trọng hơn nữa trong quản lý kinh tế toàn cầu trong tương lai. 

 

 


[1] Thông tin từ bài viết “未来10年世界经济金融走势分析” (Phân tích hướng đi tài chính kinh tế thế giới 10 năm tới ), Viện Nghiên cứu Tài chính, Ngân hàng Công thương Trung Quốc.

[2] Thông tin từ bài viết “未来10年世界经济金融走势分析” (Phân tích hướng đi tài chính kinh tế thế giới 10 năm tới )

[3] Tham khảo thông tin từ bài viết “当前世界经济主要特征与未来发展趋势” (Đặc trưng chủ yếu hiện nay và xu thế phát triển kinh tế thế giới tương lai), ngày 14/11/2013, tác giả: Khương Dược Xuân, Viện Nghiên cứu Quốc tế, Trung Quốc.

 

[4] Theo Business World of China: “G20拟再动用2万亿美元刺激世界经济” (G-20 có kế hoạch tung thêm 2 nghìn tỷ USD kích thích kinh tế toàn cầu)

 http://www.bwchinese.com/article/1053322.html

[5] Theo mạng giới Tài chính Trung Quốc: “2013年世界各国外汇储备一览” (Dự trữ ngoại hối các nước năm 2013), đăng ngày 01/08/2014.

[6] Theo mạng Tài sản Trung Quốc: “2013年世界500强95家中国公司完整名单” (Danh sách hoàn chỉnh 95 công ty Trung Quốc trong 500 doanh nghiệp có tiềm lực mạnh nhất thế giới) http://www.fortunechina.com/fortune500/c/2013-07/08/content_164367.htm

[7] Hợp tác Nam - Nam chỉ hợp tác kinh tế và công nghệ giữa các quốc gia đang phát triển, do phần lớn các quốc gia đang phát triển tập trung tại nam bán cầu hoặc phía nam của bắc bán cầu, do vậy, hợp tác kinh tế công nghệ giữa những nước này gọi là “Hợp tác Nam - Nam”.

[8] Theo bài viết “Lee Kuan Yew on East Asia's Economic Prospects”, http://asiasociety.org/australia/lee-kuan-yew-east-asias-economic-prospects

[9] “Pinormal” (tạm dịch: thường thái Tập Cận Bình), được sử dụng sau chuyến khảo sát của Chủ tịch Tập Cận Bình đến tỉnh Hồ Nam. Tại đây, Chủ tịch Tập dự báo rõ nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải đối mặt trong 10 năm tới: “Xuất phát từ các đặc trưng mang tính giai đoạn trong phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, cần phải thích ứng với thường thái mới, duy trì một tâm thái bình thường về chiến lược”.

[10] Theo bài viết西方警告:中国未来10年经济增速将跌至3.9%, http://www.bwchinese.com/article/1062977.html, ngày 22/10/2014.

[11]Theo kho dữ liệu của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Mỹ http://masetto.sourceoecd.org/vl=20625349/cl=13/nw=1/rpsv/home.htm

 

[12] Theo bào viết: “China overtakes US as world's biggest economy”, ngày 8/10/2014 http://www.independent.co.uk/news/business/news/move-over-america-china-overtakes-us-as-worlds-biggest-economy-kind-of-9783050.html

PHẦN III: NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 10 NĂM TỚI

 

Trước tiên, sự đổi mới công nghệ sẽ mang lại động lực mới cho tăng trưởng dài kỳ của nền kinh tế toàn cầu. Nhìn từ lịch sử tăng trưởng kinh tế toàn cầu, mỗi một lần tăng trưởng kinh tế theo chu kỳ đều được hưởng lợi từ việc đẩy mạnh và ứng dụng rộng rãi các công nghệ kỹ thuật mới.

Gần đây thế giới đang bàn luận sôi nổi về một cuộc “Cách mạng công nghiệp lần thứ ba” với hai đặc trưng là công nghệ in 3D và công nghệ năng lượng mới. Hai triển vọng này đã định ra phương hướng quan trọng cho quá trình đổi mới công nghệ trong tương lai, những phát kiến và cải tiến khoa học công nghệ như: Internet of things (tạm dịch: mạng Internet cho mọi vật)[1], cloud computing (tạm dịch: điện toán đám mây)[2], địa cầu thông minh, cũng như khái niệm “dữ liệu lớn” được hình thành trên cơ sở đó sẽ mang đến một cuộc biến cách lớn cho xã hội loài người.

Sự phát triển đa cực hóa của công nghệ toàn cầu sẽ dẫn đến những cuộc cạnh tranh xoay quanh công nghệ sẽ ngày càng khốc liệt hơn. Những nền kinh tế phát triển như EU, Mỹ sẽ ngày càng chú trọng đến sự phát triển của những ngành công nghệ mới như năng lượng mới, công nghệ sinh học, thông tin,… Ưu thế công nghệ sẽ không ngừng mạnh mẽ hóa; các nền kinh tế mới nổi sẽ đẩy mạnh đuổi kịp về mặt công nghệ với các nước phương Tây.

 

Thứ hai, sự phát triển của nguồn năng lượng mới sẽ làm hạ nhiệt sức ép bão hòa của tăng trưởng kinh tế. Sự khai thác tận dụng các nguồn năng lượng phi truyền thống cũng như những nguồn năng lượng mới khác với đại diện là đá phiến dầu sẽ thay đổi kết cấu năng lượng toàn cầu, góp phần giảm thiểu giá thành năng lượng, từ đó có ảnh hưởng sâu rộng đối với việc điều chỉnh kết cấu ngành nghề và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Một mặt, nguồn năng lượng mới với giá cả rẻ hơn, thân thiện với môi trường hơn sẽ thúc đẩy một cuộc cách tân trong ngành chế tạo cũng như chuyển biến của phương thức sản xuất, thúc đẩy năng suất sản xuất tiếp tục tăng lên; mặt khác, trọng tâm của tiêu dùng năng lượng toàn cầu sẽ chuyển dịch sang những thị trường mới nổi với đại diện là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, ASEAN…Trong khi những nguồn cung cấp, tỷ trọng của khu vực Tây bán cầu với đại diện là khu vực Bắc Mỹ sẽ ngày càng lớn, việc sắp xếp lại bản đồ năng lượng toàn cầu khiến cho những thị trường xuất khẩu năng lượng truyền thống phải đối mặt với nhiều thách thức, mối quan hệ cung cầu thị trường mới sẽ dần được hình thành; giá cả năng lượng tiếp tục giao động khó lường. Ba vấn đề dầu lửa, cùng với tiền và vàng, sẽ tác động lớn tới điạ-chính trị thế giới.

 

Thứ ba, thay đổi kết cấu dân số mang lại cơ hội và thách thức mới cho tăng trưởng kinh tế. Trong 10 năm tới, dân số thế giới sẽ vẫn tiếp tục tăng, đồng thời xuất hiện một số thay đổi mang tính kết cấu: Một là, dân số thành thị sẽ tăng lên, cụ thể theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dân số đô thị năm 2014 chiếm 54% dân số toàn cầu, tăng từ 34% trong năm 1960, và xu hướng vẫn tiếp tục tăng. Theo dự đoán đến năm 2017, đa số người dân sẽ sống trong các khu vực đô thị ngay cả tại những khu vực kém phát triển hơn. Dân số đô thị toàn cầu được ước tính sẽ tăng 1,84% mỗi năm trong giai đoạn 2015 – 2020,  1,63% và 1,44% trong các giai đoạn 2020 – 2025 và 2025 – 2030[3]. Ví dụ như theo kế hoạch, trong vòng 10 năm tới Trung Quốc sẽ đưa 250 triệu nông dân vào trong các thành phố[4].  Hai là tầng lớp trung lưu mở rộng, cụ thể theo trang mạng Sina.com.cn: “Tầng lớp trung lưu hiện nay của Trung Quốc ước tính 210 triệu người, theo dự đoán 10 năm sau con số này sẽ lên đến 630 triệu người”[5]; còn theo McKinsey and Company, đến năm 2015, số lượng tầng lớp trung lưu của Ấn Độ sẽ đạt 250 triệu người, chiếm 20% dân số[6]. Ba là tình trạng già hóa dân số nghiêm trọng hơn. Xét từ yếu tố sản xuất, dân số có giáo dục tốt, có năng lực cao sẽ tăng lên, điều này sẽ nâng cao rõ rệt yếu tố quan trọng nhất là nguồn tài nguyên con người, chính nhân tố con người với chất lượng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, thực chất hơn. Xét từ góc độ người tiêu dùng, sự nâng cao thu nhập tương đối sẽ thúc đẩy sức mua thị trường, có ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế.

 

Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số ngày càng nghiêm trọng cũng khiến cho áp lực chăm sóc dân số, phúc lợi xã hội, việc làm không ngừng gia tăng, tăng trưởng kinh tế đối mặt với thách thức nghiêm trọng. Theo báo cáo điều tra mới nhất của Liên hợp quốc, năm 2013, dân số toàn cầu đã vượt ngưỡng 7 tỷ người, chỉ mất 12 năm để dân số thế giới tăng từ 6 tỷ người lên 7 tỷ người; dự báo đến năm 2025, dân số toàn cầu sẽ đạt ngưỡng 8 tỷ người, đến khoảng năm 2050, sẽ đạt 9 tỷ người, đến cuối thế kỷ này sẽ đạt trên 10 tỷ người. Tình trạng già hóa dân số và “thiếu trẻ con” ở các nước đang phát triển đồng thời diễn ra. Tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Italy, Đức, dân số trên 60 tuổi đã chiếm hơn 30% tổng dân số quốc gia, trong khi tỷ lệ sinh đẻ tiếp tục giảm thấp thậm chí là tăng trưởng âm[7]. Đáng lo ngại hơn, xu thế già hóa đã xâm nhập lan tới các nước đang phát triển. Cũng theo dự báo của Liên Hợp Quốc, trong thời gian 10-20 năm tới, tỷ trọng dân số già hóa toàn cầu sẽ tiếp tục tăng lên, đến năm 2030 sẽ đạt mức 13,8%, cao hơn nhiều so với mức 9% của năm 2010.

 

Già hóa dân số ở Trung Quốc

 

Hình 2: Tình trạng già hóa dân số đáng báo động ở Trung Quốc

 

 

Bốn là, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng sẽ thúc đẩy chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế toàn cầu. Biến đổi khí hậu toàn cầu đã trở thành một trong những vấn đề cấp bách nhất của thế giới đương đại, đồng thời có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu. Theo dự báo của WB, thế kỷ 21 (từ năm 2000 - 2100), nhiệt độ toàn đầu sẽ tăng cao 5℃ so với thời kỳ trước công nghiệp hóa. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn vẫn gặp nhiều khó khăn khi cam kết cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, thể hiện trong thỏa thuận song phương Mỹ-Trung ngày 12/11/2014 nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Obama. Theo thảo thuận này, Trung Quốc không cam kết cắt giảm khí thải, tuy lần đầu tiên Bắc Kinh định ra một mục tiêu cho mức giới hạn lượng khí thải vào năm 2030. 

 

pollution

Hình 3: Ô nhiễm môi trường tại các thành phố Trung Quốc

 

Các vấn đề xoay quanh việc ứng phó với biến đổi khí hậu, các nền kinh tế trên thế giới đã triển khai thảo luận trên nhiều góc độ từ công nghệ, chính sách, kinh tế cho đến nguồn tài chính, tiến trình chuyển đổi phương thức tăng trưởng kinh tế (đặc biệt là những quốc gia đang phát triển) sẽ không ngừng đẩy nhanh, nguồn năng lượng thông minh, cơ sở hạ tầng xanh, các sản phẩm theo nguyên lý sinh thái, rác thải, quản lý nguồn tài nguyên đất và nước, nghiệp vụ tư vấn sinh thái, tài chính và đầu tư carbon… sẽ trở thành trọng điểm phát triển trong tương lai, nền kinh tế carbon thấp, thân thiện với môi trường, xanh sẽ trở thành phương hướng lớn trong tăng trưởng kinh tế nói riêng cũng như chuyển đổi phương thức sinh sống xã hội nói chung.

 

 

Đôi lời kết luận

 

Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới luôn tiềm ẩn những nhân tố bất ngờ và khó dự đoán. Tuy nhiên, một xu thế chủ đạo và chắc chắn đó là xu thế toàn cầu hóa sẽ trở thành một nhu cầu cấp bách của loài người nếu chúng ta muốn phát triển bền vững và toàn diện. Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế đó, mối quan hệ về một chuỗi sản xuất, chuỗi phân công lao động sẽ càng rõ ràng hơn bao giờ hết, khiến cho mỗi một quốc gia sẽ trở thành một mắt xích không thể thiếu trong một chuỗi dài đó. Và trên hết, sau thời gian phát triển nóng và chạy theo những con số của các nền kinh tế toàn cầu, trong tương lai các nền kinh tế, cả phát triển và đang phát triển, sẽ chú trọng vào tăng trưởng thực chất hơn, với tiêu chí “ít mà tinh”, trong đó mối quan tâm và nhiệm vụ hàng đầu là giải quyết các món nợ công khổng lồ có thể bất cứ lúc nào khiến các chính phủ đổ bể.

Nhiều tiếng nói cho rằng liệu Trung Quốc sẽ châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới trong tương lai với mức tăng tín dụng chóng mặt trong nước như hiện nay hay không. Theo Bloomberg, trong khi người tiêu dùng và chính phủ các nước Mỹ và châu Âu đang cố gắng phần nào để ổn định các khoản nợ của mình, thì Trung Quốc lại đang làm ngược lại. Trong vòng 5 năm vừa qua, chính phủ nước này đã hơm hơn 13 nghìn tỷ USD vào nền kinh tế, trong một nỗ lực nhằm duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phục hồi yếu ớt[8] và những động cơ ổn định nội bộ. Theo một báo cáo điều tra chính sách kinh tế mới đây của London’s Centre, tăng trưởng các khoản cho vay tín dụng của Trung Quốc đã đẩy nước này vào hàng ngũ những quốc gia nợ nần nhiều nhất trong các nước mới trỗi dậy. Tính riêng năm 2013, tổng nợ công chính phủ, ngoại trừ những khoản nợ của các tổ chức tài chính, đã chiếm đến 217% GDP, mức tăng chóng vánh so với 147% của năm 2008. Điều này dấy lên lo ngại Trung Quốc sẽ rơi vào trạng khó khăn tương tự như những thập niên đánh mất của Nhật Bản, đồng thời châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính tại châu Á và sau đó lan ra phạm vi toàn cầu. Nếu bùng nổ tín dụng tiếp tục giữ mức tăng trưởng như hiện tại thì viễn cảnh của nền kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ gặp nhiều sóng gió.

Song song với những cơ hội cách tân và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tất yếu, nền kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ phải đối mặt với hàng loạt những thách thức khác như xung đột, chạy đua vũ trang mới châm ngòi cho chiến tranh thế giới thứ ba, chủ nghĩa khủng bố, biến đổi khí hậu, môi trường toàn cầu xấu đi, chủ nghĩa bảo hộ thương mại ngóc đầu dậy, già hóa dân số, vật giá các loại hàng hóa leo thang, an ninh lương thực, an ninh năng lượng… Ví dụ như, vấn đề an ninh lương thực và nghèo đói, theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương thế giới, hiện nay trên thế giới cứ 7 người thì có một người đang phải chịu cảnh đói khát, đợt khủng hoảng lương thực vừa qua đã làm tăng thêm 44 triệu người trong diện nghèo đói.

Hiện nay, tại những nước phát triển, ¼ dân số đang phải sống trong trạng thái nghèo đói cùng cực. Vậy liệu rằng nền kinh tế toàn cầu có thể vượt qua những thách thức kể trên, đồng thời chuyển mình và trỗi dậy mạnh mẽ sau cơn bảo khủng hoảng 2008 cho đến nay vẫn luôn là một dấu hỏi lớn đối với các nhà kinh tế học và giới chính trị gia./.

                                                          

 

 


[1] Internet of things: là một tập hợp các thiết bị có khả năng kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó. Ví dụ như, các vật dụng gia đình, cá nhân đều có thể kết nối với máy tính, để con người có thể dễ dàng theo dõi.

 

[2] Theo giải thích của Wikipedia: “Thuật ngữ ‘cloud computing’ ra đời giữa năm 2007 không phải để nói về một trào lưu mới, mà để khái quát lại các hướng đi của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra từ mấy năm qua. Quan niệm này có thể được diễn giải một cách đơn giản: các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ và các dịch vụ sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần. Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm. Họ chỉ cần tập trung vào kinh doanh lĩnh vực riêng của mình bởi đã có người khác lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin thay họ”.

[3] Theo báo cáo của Cơ quan Quan sát Y tế Toàn cầu, thuộc WHO http://www.who.int/gho/urban_health/situation_trends/urban_population_growth_text/en/

[4] Theo trang Politician.com.cn: 中国城镇化大跃进:2.5亿农民涌向城市 (Đại nhảy vọt đô thị hóa Trung Quốc: 250 triệu nông dân vào thành phố)

[5]  Theo Sina.com.cn: 未来10年中国中产阶层人数由2.3亿增至6.3亿 (10 năm tới tầng lớp trung lưu Trung Quốc sẽ tăng từ 230 triệu người hiện nay lên 630 triệu người)

[7] Theo bài viết trên “Thời báo Kinh tế Trung Quốc”: 未来十年全球经济面临六大挑战 (Kinh tế thế giới đối mặt với sáu thách thức lớn 10 năm tới)

 

Bình luận

Mã bảo vệ

Các mục có dấu (*) là bắt buộc

Các tin đã đưa

    Đối tác - Nhà tài trợ