Hoạt động

70 NĂM NGOẠI GIAO VIỆT NAM

10/9/2015 3:43:09 PM

Lịch sử Việt Nam qua 70 năm hình thành và phát triển, từ một nước thuộc địa nhỏ bé ở Đông Nam Á chưa ai biết tới, nay đã có quan hệ với toàn bộ các nước trong Liên Hiệp Quốc, và đặc biệt có quan hệ đối tác chiến lược, hoặc đối tác toàn diện, với 5 nước lớn trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Đó là kết quả của nền ngoại giao Hồ Chí Minh, mà trong giai đoạn đầu (1945-1946) Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo.

 

Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng 8, Quốc khánh 2/9 và cũng là bảy thập kỷ Ngoại giao Việt Nam, Tuần Việt Nam (Báo Vietnamnet.vn, trong hai số 26 và 27/8, phỏng vấn Đại sứ Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quốc tế, xung quanh những vấn đề ngoại giao của Việt Nam.

 

 

Bài học từ việc Việt Nam ‘chọn bạn’ cực đoan

 

“Bài học thực tế là có thể chọn bạn, nhưng không “nhất biên đảo” một cách cực đoan. Thậm chí có thể chọn bên trong một cuộc chơi “thăng bằng” một cách có ý thức, thăng bằng nhưng có thể lệch pha. Ngày nay dễ làm điều này hơn hồi ấy.”

 

Có lúc "nhất biên đảo" cực đoan

 

- Thưa ông, nhìn lại cả một quá trình thì Ngoại giao Việt Nam qua 70 năm hình thành và phát triển có thể chia làm mấy giai đoạn?

 

- Nếu phân tích theo lối cổ điển, có thể chia lịch sử ngoại giao Việt Nam 70 năm qua theo 4 giai đoạn:

 

Giai đoạn 1945-1946: Ngoại giao góp phần bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng. Ngoại giao Hồ Chí Minh phát huy cao độ sức mạnh của một dân tộc vừa được giải phóng khỏi ách đô hộ thực dân và phong kiến, cũng như sự khôn khéo sách lược và nghệ thuật ngoại giao, làm cho chính quyền non trẻ tồn tại giữa 5 thế lực nước lớn và 30 vạn quân đội nước ngoài. Giai đoạn này đem lại những bài học kinh điển về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, chuyển hướng chủ trương mau lẹ, lúc lùi, lúc tiến, hóa giải xung đột cục bộ, làm cho “đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”, gõ các cánh cửa hòa bình, làm cho đối phương chập chững, tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng cách mạng cho cuộc kháng chiến chống xâm lược không thể tránh khỏi.

 

Giai đoạn 1947-1954: Đấu tranh chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc và khẳng định các quyền cơ bản của Việt Nam – những điều này Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 nêu ra nhưng chưa được quốc tế công nhận. Hai đại sự: mở cánh cửa ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân, từ đó ra thế giới, tác động vào phong trào phản chiến ở Pháp, đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva 1954 về chấm dứt chiến tranh Đông Dương. Làm cho các nước lớn trên thế giới công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.

 

Hòa bình lập lại năm 1954, tranh thủ viện trợ và giúp đỡ quốc tế xây dựng kinh tế miền Bắc. Từ 1964 đến 1975, Việt Nam bước vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, chống đế quốc Mỹ xâm lược, ngoại giao góp phần tập hợp lực lượng quốc tế ủng hộ Việt Nam, hình thành một trong ba mặt trận (chính trị, quân sự, ngoại giao).

 

Đàm phán Paris là một thành tựu quan trọng bậc nhất của ngoại giao Việt Nam. Ngoài sự khôn khéo và kiên định, các nhà đàm phán Việt Nam đã làm được công việc phi thường, đó là  chuyển biến thắng lợi quân sự, chính trị, phong trào thế giới ủng hộ Việt Nam và phản chiến ở Mỹ thành kết quả trên bàn đàm phán.

 

Hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, ta đã có phần say sưa với chiến thắng, chậm nhận thức những chuyển biến vô cùng phức tạp trong chính trị nước lớn, cuộc cạnh tranh chiến lược của tam giác Mỹ-Xô-Trung, và âm mưu thâm độc của tập đoàn Pol Pot - Khơme Đỏ được thế lực nước lớn ủng hộ gây ra xung đột biên giới tây-nam.

 

Không phải ta không thấy, nhưng không thấy hết sự phức tạp của tình hình, nên đã thực hiện “nhất biên đảo” (ngả theo một bên – PV) một cách cực đoan. Về tổng thể đã bị các thế lực đối địch dùng đủ các loại xung đột để kiềm chế ta, làm cho ta không phát huy được đà thắng lợi của các sự kiện đỉnh cao năm 1973 và 1975. Từ chủ động chiến lược rơi vào thế bị động chiến lược.

 

Sẽ có không ít ý kiến bàn luận về vấn đề ấy của các năm 1975-1979, nhưng phải đánh giá tình hình từ bản thân lịch sử, từ hiệu quả và hậu quả của chủ trương đối ngoại để rút ra các bài học cho hiện tại và tương lai. Thực tiễn kiểm tra chân lý. Bài học thực tế là có thể chọn bạn, nhưng không “nhất biên đảo” một cách cực đoan. Thậm chí có thể chọn bên trong một cuộc chơi “thăng bằng” một cách có ý thức, thăng bằng nhưng có thể lệch pha. Ngày nay dễ làm điều này hơn hồi ấy.

 

Từ năm 1986 đến nay là giai đoạn ngoại giao phục vụ hòa bình xây dựng đất nước, phục vụ đổi mới và hội nhập quốc tế. Từ năm 1995 là một giai đoạn quan trọng; từ năm 2011 ta đã chủ động và tích cực hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả. Bên cạnh đó, việc hình thành tư duy và nhận thức mới về tình hình thế giới và đường lối chính sách đối ngoại là thành tựu hết sức quan trọng.

 

Gia nhập ASEAN, là thành viên tích cực của đại gia đình Đông Nam Á, là một bước tiến vượt bậc của ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại. Nó mở ra một trang mới để Việt Nam thiết kế một nền hòa bình ổn định và tăng tư thế Việt Nam trên trường quốc tế và trong quan hệ với các nước lớn.

 

- Từng giai đoạn đó có những đặc điểm gì, thưa ông?

 

- Ngoại giao Việt Nam trong 70 năm qua góp phần thực hiện bốn nhiệm vụ lớn:

 

Giai đoạn 1945-1946: Bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng. Hồi đó đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trực tiếp lãnh đạo Bộ ngoại giao.

 

Giai đoạn 1947-1975: Phục vụ cho đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

Đàm phán ký kết các thỏa thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình 1954, 1973 và Hiệp định Paris về Campuchia năm 1991. 

 

Phục vụ đắc lực nhiệm vụ hòa bình xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào việc đổi mới tư duy nhận thức về thế giới và tư duy đối ngoại.

 

Lỡ bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ cuối những năm 1970

 

- Trước giai đoạn Campuchia là mấy năm sau hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam. Trong giai đoạn này ngoại giao Việt Nam đã thất bại trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Nhiều ý kiến cho rằng vì Việt Nam quá cứng nhắc trong việc đòi hỏi bồi thường chiến tranh từ phía Mỹ 3,25 tỷ đô la, do Tổng thống Nixon đã hứa trong bức công hàm gửi cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau khi ký hiệp định Paris, và đến khi Việt Nam chịu từ bỏ điều kiện này (giữa năm 1978) thì Mỹ không còn quan tâm đến Việt Nam nữa, và Việt Nam đã phải ký Hiệp ước Hữu nghị với Liên Xô, và, theo nhiều người, đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc Trung Quốc tấn công Việt Nam đầu năm 1979. Ông nghĩ sao về chuyện này?

 

- Hồi đó thế giới chia làm hai cực, hai phe. Bối cảnh quốc tế ấy chi phối và ràng buộc chính trị thế giới cũng như chính sách đối nội, đối ngoại của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, nếu nắm được bản chất sự việc, có chiến lược đúng đắn và sách lược khôn khéo thì vẫn có thể tránh được xung đột và chiến tranh.

 

Năm 1977, chính quyền Carter ở Mỹ chủ động thăm dò bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhưng về phía Mỹ, quan hệ với Việt Nam không cấp thiết, không phải là vấn đề ưu tiên. Cơ hội chỉ diễn ra trong năm 1977. Khi xung đột biên giới Tây-Nam nổ ra và Đặng Tiểu Bình đi Mỹ hô sẵn sàng lập “NATO phương Đông”, thúc đẩy liên kết với Mỹ ngăn chặn Liên Xô mở rộng ảnh hưởng ra châu phi, Mỹ Latinh và châu Á dưới khẩu hiệu chống “đại bá toàn cầu”, chống “tiểu bá khu vực”, cơ hội đã không còn.

 

Mặt khác, ta vừa ra khỏi chiến tranh, còn nặng cơn “hội chứng Mỹ”, Mỹ càng nặng cơn “hội chứng Việt Nam”. Không dễ thay đổi nhận thức để một bước chuyển hóa từ quan hệ nặng tính thù địch trong chiến tranh sang bình thường hóa quan hệ. Nhưng căn bản, Trung Quốc đã chủ động thúc đẩy bàn cờ chính trị châu Á, lợi dụng vấn đề Campuchia để tập hợp lực lượng, bao vây cô lập Việt Nam. Ta “nhất biên đảo” với Liên Xô, thì cũng gặp khó khăn theo, khi nước lớn này sa lầy chiến lược trong các cuộc chiến tranh cục bộ, lại bị lôi kéo vào cuộc chạy đua vũ trang, bị kiệt quệ và “chảy máu”, mà hậu quả thì sau này ta đã biết.

 

Khi Liên Xô không thể cáng đáng các cuộc xung đột cục bộ ở các khu vực và cuộc chiến tranh trực tiếp Afghanistan, phải “buông” các đồng minh, ta gặp khó khăn, nhưng kịp thời chuyển hướng chiến lược. “Cùng tắc biến, biến tắc loạn, loạn tắc thông”. Sự tan rã của thế giới lưỡng cực tạo ra môi trường quốc tế đa dạng hóa. Chúng ta đã kịp thời nắm lấy quyền chủ động chiến lược và làm nên lịch sử, mở ra thời kỳ đổi mới, cải cách, hội nhập quốc tế.

 

 

Việt Nam xử lý thế nào với 'tam giác' Mỹ-Nga-Trung?

 

“Bây giờ ta phải xử lý quan hệ với Mỹ và Trung Quốc khi hai nước này đang cạnh tranh chiến lược gay gắt ở châu Á-Thái Bình Dương. Ta phải phát huy các đòn bẩy chính trị, an ninh, ngoại giao sao cho tối ưu hóa lợi ích quốc gia…. Vẫn cần thúc đẩy để Nga phát huy vai trò tích cực ở Đông Nam Á và với ASEAN, hạn chế việc Trung Quốc lôi kéo Nga ủng hộ các việc làm ở Biển Đông”.

 

Từ “ý thức hệ” chuyển sang “lợi ích”

 

- Trong bối cảnh bị bao vây cấm vận những năm 1980-90, đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam được hình thành và triển khai như thế nào?

 

- Những chủ trương lớn về đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam bắt đầu hình thành từ Đại hội VI (1986), và Nghị quyết 13 (1988) của Bộ Chính trị là cơ sở để phát triển và nâng cao đường lối đối ngoại của ta thành đường lối độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ như ngày nay.

 

Trên cơ sở những thành tựu đổi mới, Đại hội VII của Đảng (1991) đã tiến thêm một bước là "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

 

Sự hoàn thiện đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa thể hiện trong nghị quyết của Đại hội X (2006). Vừa rồi với việc ta ký kết FTA với EU và căn bản hoàn thành thương lượng TPP với Mỹ, chủ trương đối ngoại đã vượt lên một tầm cao mới.

 

- Từ sau năm 1990, Việt Nam trong chính sách ngoại giao mới đã bắt đầu chơi với các đối thủ hoặc cựu thù như ASEAN và Mỹ. Việt Nam cũng bình thường hóa quan hệ với nước vừa là bạn vừa là kẻ thù với mình là Trung Quốc. Tức là ngoại giao Việt Nam dường như đã thoát khỏi ý thức hệ. Ông có thể giải thích cụ thế hơn về thay đổi này được không?

 

- Lord Palmerston, Thủ tướng nước Anh cuối thế kỷ 19, từng nói: Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có những lợi ích vĩnh viễn. Năm 1986, ông Goocbachev phát biểu tại Nghị viện Anh, nhắc lại câu nói đó. Lúc đó tôi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, rất ngạc nhiên, và thực tế cho thấy, chính sách đối ngoại của Liên Xô đã bắt đầu quá trình phi ý thức hệ.

 

Nước nào cũng lấy lợi ích quốc gia làm trọng. Nhưng nhiều khi các nước lớn dùng ý thức hệ như một thủ đoạn chính trị và ngọn cờ tập hợp lực lượng mà thôi. Ngoại giao ta theo phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “Làm bạn với các nước dân chủ, không gây thù oán với một ai”.

 

Giai đoạn đặc thù

 

- Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam vừa có hòa bình, nhưng vừa có nguy cơ xung đột ở biển đảo. Ngoại giao Việt Nam phải làm những gì?

 

- Đây là một giai đoạn tương đối đặc thù. Phải nói rằng vấn đề Biển Đông không phải là toàn bộ chính sách đối ngoại của Việt Nam, mà là một phần quan trọng liên quan đến việc giữ vững và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tính theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cũng như Luật Biển của Việt Nam, nước ta có 1 triệu km2, và Việt Nam phải thâm canh trên từng km2 ấy, vì vậy phải bảo vệ chủ quyền và quyền lợi biển của mình trên Biển Đông.

 

Trong quan hệ với Trung Quốc, phương châm của ta là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Biển Đông là câu chuyện lâu dài. Ta cần xử lý nó một cách bình tĩnh, kiên trì và có nguyên tắc. Không để đối phương dùng vấn đề Biển Đông làm rối loạn chiến lược phát triển và bàn cờ ngoại giao của ta.

 

- Trong chuyện Biển Đông liệu Việt Nam có thể huy động sự ủng hộ của quốc tế giống như trong kháng chiến chống Mỹ được không?

 

- Vấn đề Biển Đông đã quốc tế hóa. Đây là vấn đề vừa liên quan đến các bên trong khu vực Biển Đông, vừa liên quan đến các nước ngoài khu vực. Vừa là vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta, vừa liên quan đến tự do hàng hải, an ninh và an toàn các con đường biển quốc tế. Vừa liên quan chủ quyền quốc gia của các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, vừa liên quan đến luật pháp quốc tế, trước hết là Công ước Luật biển 1982.

 

Cơ sở để tập hợp lực lượng quốc tế, tranh thủ dư luận quốc tế hiện nay là nêu cao ngọn cờ tôn trọng luật pháp quốc tế. Mâu thuẫn chủ yếu hiện nay trong vấn đề Biển Đông là giữa một bên là Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông với các bên khác giữ nguyên trạng và ổn định tình hình Biển Đông. Mỹ và Nhật Bản hiện tại đã xác định tự do hàng hải, an ninh và an toàn của các con đường biển ngang qua Biển Đông thuộc “lợi ích quốc gia” của các nước này.

 

Liên minh châu Âu (EU) chẳng hạn, họ ủng hộ việc giải quyết vấn đề Biển Đông về mặt nguyên tắc, tức là bảo đảm tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình… Đối với Nhật Bản, Hoa Đông và Biển Đông liên quan đến nhau, vì qua Biển Đông có con đường hàng hải đến Hoa Đông tới Nhật Bản. Còn đối với Mỹ, nếu để Trung Quốc kiểm soát Biển Đông thì Mỹ sẽ bị đẩy ra khỏi Biển Đông và Tây Thái Bình Dương.

 

- Câu chuyện Nga, Trung và Mỹ trước những năm 1990 và bây giờ khác nhau như thế nào đối với Việt Nam?

 

- Trước đây khi còn Liên Xô, nước Mỹ nghiêng về phía Trung Quốc, chơi con bài Trung Quốc để chống chọi với Liên Xô. Trung Quốc cũng dùng Mỹ để đối trọng và kiềm chế Liên Xô và qua đó tranh thủ sự hỗ trợ của phương Tây triển khai bốn hiện đại hóa. Nhật Bản đổ nhiều tiền của ODA vào Trung Quốc. Từ năm 1972 đến 1975 thì “tam giác” này có liên quan trực tiếp Việt Nam.

 

Sau này chỉ liên quan gián tiếp. Khi Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991, nước Nga không còn đóng vai trò đáng kể cả. Cuộc chơi hiện nay là cuộc chơi giữa Mỹ và Trung Quốc, Nga đóng vai trò là đối tác chiến lược với Trung Quốc.

 

Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam, có thể nói Mỹ - Trung - Nga, nhưng bây giờ chỉ có thể nói Mỹ - Trung, và nếu cần có thể thêm Nhật Bản nữa.

 

Đối với Việt Nam, Nga không có quyền lợi sát sườn ở khu vực này. Và sự quan tâm của Nga với khu vực này cũng yếu đi.

 

Bây giờ ta phải xử lý quan hệ với Mỹ và Trung Quốc khi hai nước này đang cạnh tranh chiến lược gay gắt ở châu Á-Thái Bình Dương. Ta phải phát huy các đòn bẩy chính trị, an ninh, ngoại giao sao cho tối ưu hóa lợi ích quốc gia. Nga vẫn là đối tác chiến lược của ta về kinh tế; vẫn cần thúc đẩy để Nga phát huy vai trò tích cực ở Đông Nam Á và với ASEAN, hạn chế việc Trung Quốc lôi kéo Nga ủng hộ các việc làm ở Biển Đông dù dưới hình thức cùng Trung Quốc kiềm chế Mỹ ở khu vực này.

 

"Dĩ bất biến ứng vạn biến"

 

- Trong ngoại giao người ta hay nhắc đến câu nói của Hồ Chí Minh dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi sang Pháp là “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nguyên tắc đó còn có giá trị trong ngoại giao hiện nay nữa  hay không?

 

- Câu nói đó là một phương châm xử thế thuộc triết lý phương Đông, các nhà Nho học Việt Nam rất hiểu điều này. Ở thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, để cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch nước, tính bất biến là giữ vững độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng – đó là nguyên tắc tối cao, từ đó mà linh hoạt về sách lược, thiên biến vạn hóa trong xử lý các mối quan hệ đối ngoại.

 

Ngày nay nó vẫn là một trong các phương châm xử thế quan trọng đối với hoạt động đối ngoại nhưng với các nội hàm mới.   

 

- Ai là người có ảnh hưởng lớn nhất đến ngoại giao Việt Nam?

 

- Hồ Chí Minh! Ngoại giao Việt Nam trong 70 năm qua là ngoại giao trong thời đại Hồ Chí Minh.

 

Bên cạnh, ngoại giao hiện đại của Việt Nam còn có rất nhiều nhân vật xuất sắc: Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thị Bình và một số vị khác.

 

Một nhà ngoại giao có tài mà tôi đặc biệt muốn nhắc tới là ông Nguyễn Cơ Thạch. Ông có đóng góp nổi bật trên hai lĩnh vực: Thúc đẩy nghiên cứu chiến lược và xây dựng ngành ngoại giao.

 

- Ông nghĩ gì về ngoại giao Việt Nam giai đoạn tiếp theo? Điều gì đáng lưu ý nhất?

 

- Tôi thấy có ba điểm đáng lưu ý:

 

Một là, ngoại giao của nước ta đang vận hành thuận theo xu hướng thời đại và phù hợp với lợi ích quốc gia. Nền ngoại giao Việt Nam đã trưởng thành, phát triển toàn diện, chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhiều nhà quan sát ngoại giao đều thừa nhận và khâm phục bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam.

 

Hai là, các nhà ngoại giao ta hiên nay được đào tạo tốt, mạnh về chuyên môn, nhưng còn yếu về tư duy chiến lược.  Một nhà ngoại giao giỏi là có trình độ chuyên môn cao, thành thạo về nghiệp vụ, nhưng còn cần có tư duy chiến lược.

 

Ba là, nước Việt Nam ta có vị trí địa-chiến lược rất độc đáo, vì vậy mà 70 năm qua, đất nước ta chịu nhiều chiến tranh, xung đột và cọ xát chiến lược giữa các nước lớn.

 

Nếu nói ngắn gọn về một nhu cầu bức thiết nhất của ngoại giao Việt Nam giai đoạn tới, thì gọn mấy chữ: nâng cao năng lực nghiên cứu chiến lược và dự báo chiến lược!./.

Bình luận

Mã bảo vệ

Các mục có dấu (*) là bắt buộc

Các tin đã đưa
Đầu Trước1 2 3 4 5 6 7 8 9 10Tiếp Cuối

Đối tác - Nhà tài trợ